Các khóa học đã đăng ký

CÂU HỎI: "NGƯỜI BẢN NGỮ HỌC NGỮ PHÁP TIẾNG ANH NHƯ THẾ NÀO?"

Trả lời của Bruce R. Bain, tốt nghiệp trung học năm 1966, dạy tiếng Anh và dạy lớp phát âm các thuật ngữ giải phẫu học:
Người bản ngữ học “ngữ pháp” theo hai cách.

 

Học ngữ pháp không phải là cách tốt nhất để học tiếng Anh. Tuy nhiên, nếu bạn biết một ít tiếng Anh và một ít ngữ pháp, nó sẽ giúp ích trong việc học từ vựng.
Trước khi người bản ngữ học ngữ pháp, họ được học các bài hát, các bài thơ trong nhà trẻ. Chúng phát triển trí nhớ về cách tạo câu. Đó là lý do tại sao việc nói là một quá trình “tự nhiên”.

Đây là “Phương pháp Nhại lại“. Nó được gọi là nhại lại vì người hướng dẫn sẽ nói to một từ hoặc cụm từ và người học lặp lại từ hoặc cụm từ đó. Bằng cách thực hành cùng một bài học mỗi ngày, và lặp lại các từ hoặc một vài từ cùng nhau, người học học cách đọc và nhận ra các từ. Tất nhiên, trẻ em phải được đưa cho một tờ giấy trên đó ghi tất cả những gì phải học.

có nên học ngữ pháp tiếng anh

Giống thế này:

“Hickory dickory dock.
The mouse ran up the clock.
The clock struck one.
The mouse ran down.
Hickory dickory dock.”

Người bản ngữ biết các từ vựng “phát âm” ra sao ngay cả trước khi biết ý nghĩa của những từ này. “Hickory” là một loại cây, nhưng “dickory” và “dock”, không phải là những từ thực sự có nghĩa. Chúng là những âm thanh vô nghĩa và vớ vẩn. Chúng được viết vậy để đọc nghe có vẻ “vui” hơn.

Trước khi người bản ngữ biết bất cứ điều gì về ngữ pháp, họ ghi nhớ khuôn mẫu:
“The clock struck one.”
Đó chính là khuôn mẫu của:
(Mạo từ + Danh từ + Động từ + Số) (Số hoặc các từ chỉ phẩm chất như lớn, nhỏ, tốt, xấu, v.v.)

Từ đó các khuôn mẫu được ghi nhớ vào đầu. Hãy xem các khuôn mẫu sau:

1 The clock struck one.
2 The mouse ran down.
3 The way is long.
4 The way is short.
5 The words are short.
6 The words are long.
7 The words are big.
8 The words are small.
9 The nouns are hard.
10 The nouns are easy.
11 The verbs are hard.
12 The verbs are easy.
13 The room is big.
14 The room is small.
15 The teacher is mad.
16 The teacher is nice.
17 The food is good.
18 The food is bad.
19 The book is here.
20 The pencil is there.

Người bản ngữ học, mà không cần biết gì về ngữ pháp cả.

Tương tự, người bản ngữ học cách hình thành nên các câu hỏi và trả lời chúng, mà không cần học ngữ pháp.
Ví dụ:

21 Where is my shoe?
22 Where is my coat?
23 Where is my hat?
24 Where are we going?
25 Are we going there?
26 How are we going there?
27 Why are we going there?
28 What is there?
29 Why are we leaving here?
30 Do we have to go there?
31 Why do we have to go there?
32 What is there?
33 I do not want to go there.
34 Why do I have to do that?
35 Why are you doing that?
36 How are you doing that?
37 How do they do that?
38 I do not want to do that.
39 No! I am not going to do that!
40 Yes! I am going to do that.
41 You cannot do that.
42 Yes you can do that.
43 You have to do that.
44 You have to do it.
45 You should never do that.
46 Do you want some of mine?
47 Give me yours.
48 Show me yours.
49 I want some water.
50 I want something to eat.
51 I want something to drink.
52 Do it this way.
53 Do it that way.
53 What is the right way?
55 What is the wrong way?
56 Which is the right way?
57 Which is the wrong way?
58 Who is that?
59 Who is he?
60 Who is she?
61 Who are they?
62 Why are we going?
63 Can we stay?
64 I want to stay.
65 Make some for me.
66 Why can I not have some?.
67 I want it now.
68 I don’t want it later.
69 I want it now.
70 You have to give it to me now.
71 You have to do it this way.
72 You have to do it that way.
73 Which is the right way?
74 Which is the wrong way?
75 You cannot have mine.
76 You can have mine.
77 Why don’t you take his?
78 You can have hers.
79 Where does this go?
80 Where does that go?
81 Put it here.
82 Put it there.
83 Lift it up.
84 Put it down.
85 Leave me alone!
86 Come with me.
87 Come play with me.
88 Let’s go over there.
89 Let’s stay here.
90 Make some for me.
91 I can make some for you.
92 Say it for me.
93 Talk to me.
94 Let’s play together.
95 You play over there and I will play over here.
96 Let’s play army.
97 Let’s play war.
98 Let’s play doctor.
99 Let’s play nurse.
100 Pretend you are hurt.
101 Pretend you are a doctor.
102 Pretend you are better now.
103 Pretend you are sick.
104 Pretend you are all better again.
105 Show me how you did it.
106 Show me how you did that.
107 Show me!
108 Show me where it is.
109 Show me what it is.
110 Show me how to do it.
111 Tell me why you did that.
112 You have to show me.
113 I will you show you .
114 Can you show me?
115 Will you show me? 116 Would you show me?
117 I cannot show you because I do not know.
118 I will show you because you are my friend.
119 I know I said I did not like you but that was before.
120 Now I like you.
121 Now we can be friends.
122 I can tell you how to do it.
123 I can show everyone how to do it.
124 Let us be friends, okay?
125 It is not easy to do.
126 Some things can be hard to do.
127 There are different ways of doing things.
128 There are good things and there are bad things.
129 Do you like doing this?
130 I like doing this.
131 All of us like doing this.
132 Think about this.
133 Think about that.
134 Find this.
134 Find that.
135 Find the answer.
136 Find the problem.
137 Find the solution.
138 Find the Verbs.
139 Find the Nouns.
140 Discover the secret.
141 Discover the sentences that will help.
142 Discover the sentences that will teach.
143 Discover the sentences that we can speak.
144 Discover the sentences that develop our ability.
145 I have the ability to speak.
146 You have the ability to speak.
147 We have the ability to write.
148 I can write words, sentences, paragraphs, pages, and books.
149 Look at the words.
150 Look at the parts of speech.
152 Look at the Verbs.
153 The Verbs are important to know.
154 I want to know the important things.
155 You want to know the important things.
156 We need to know the important things.

Vào thời điểm người bản ngữ đến trường, họ đã có một vốn từ vựng cơ bản, mà chưa bao giờ nghe hoặc thấy bất cứ cái gì liên quan đến ngữ pháp.
Đó cũng là lý do tại sao SỰ LẶP LẠI được nhấn mạnh đối với các sinh viên học tiếng Anh.

Người bản ngữ thường không cần phải “nghĩ” về những gì họ nói. Họ cứ nói những gì họ muốn nói, dựa trên trí nhớ về cách các câu được hình thành.
Khi học được một số loại bài hát nhất định, chẳng hạn như những bản ballad chậm, v.v., bộ nhớ của họ về các âm cao, âm trầm được tự động lấy ra mà dùng, mà không cần phải “nghĩ”.

Vào thời điểm một người bản ngữ đi học ngữ pháp ở trường, thì họ đã tự tin khi nói, mặc dù họ chỉ có kiến ​​thức hạn chế về Từ loại (Part of Speech: Danh từ, động từ, tính từ…) hoặc kiến ​​thức về các cụm từ, mệnh đề và các thì trong ngữ pháp. Những thứ đó chỉ trở nên cần thiết, khi người bản ngữ cần viết những thứ dùng trong trường học, hoặc đại học.

Không phải ai cũng cần một vốn từ vựng cao cấp. Chỉ có một vài người sẽ cần khi dùng tiếng Anh trong ngữ cảnh giao tiếp nonfiction.
(nonfiction dịch ra khá văn vẻ là “phi hư cấu” nên mình không dịch, nó nghĩa là dạng văn bản truyền đạt thông tin theo kiểu thẳng thắn, khoa học, dựa trên các sự kiện có thật như sử học, tiểu sử… chứ không phải dạng văn fiction (hư cấu) vốn dĩ được nhào nặn cho kịch tính qua lăng kính của người viết như các tiểu thuyết)
Việc nói tiếng Anh để sử dụng hàng ngày, là một điều rất dễ.

Việc viết để diễn đạt ý tưởng là một kỹ năng dùng khi lên đến trung học. Viết lại được thực hiện ở cấp độ nâng cao hơn nữa khi lên đến đại học. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi kỹ năng phát triển từ vựng học thuật.

Các sinh viên nước ngoài đôi khi phải vật lộn với cả việc nói lẫn viết tiếng Anh.

Tại sao lại thường như vậy?

Tôi nghĩ rằng đó là vì họ được dạy tiếng Anh theo kiểu: học tiếng Anh là học ngữ pháp. Nó rất khác với kiểu học “lặp lại và ghi nhớ”.
Khi một người học ngữ pháp, họ buộc phải “suy nghĩ”. Kể cả nghĩ về những “khái niệm trừu tượng”.

Do đó, có một rào cản khi một sinh viên nước ngoài tìm cách cải thiện khả năng nói và viết của họ bằng cách nhờ giúp đỡ hoặc lời khuyên từ người bản ngữ.
Nếu cứ nghĩ rằng cách duy nhất để học tiếng Anh là ngữ pháp, thì sinh viên nước ngoài sẽ nghĩ “Tôi cần ai đó giúp về ngữ pháp”.

Họ sẽ hỏi liên tục. “Làm thế nào tôi có thể học ngữ pháp đây?”
“Cách tốt nhất để học ngữ pháp là gì nhỉ?”
“Ai đó bản ngữ có thể cho tôi lời khuyên về việc học ngữ pháp không?”


Vậy là khi người bản ngữ cố gắng giúp đỡ sinh viên nước ngoài bằng cách gợi ý học tiếng Anh bằng các phương pháp khác nhau, sẽ xuất hiện một bức tường hiểu lầm, bức tường này khiến cho các sinh viên nước ngoài không chấp nhận được các phương pháp đó, bởi vì…. họ đã được dạy rằng muốn học tiếng Anh thì phải thông qua ngữ pháp.
Kết quả là sinh viên nước ngoài nói khó khăn, và viết còn khó khăn hơn.
Rồi họ lại lên các trang web trên Internet và yêu cầu giúp đỡ.

Họ nghĩ như thế này:
“Những người bản ngữ sẽ hiểu được khó khăn của tôi. Họ sẽ tư vấn cho tôi và cho tôi biết tôi nên làm gì.”
Còn người bản ngữ thì cứ chia sẻ những gì họ biết thôi.
Họ bảo “Học ngữ pháp đi“.
Đôi khi họ nói “Hãy đọc mọi thứ“.
Thậm chí là “Hãy tìm tiểu thuyết mà đọc“.
Tất cả các lời khuyên đó nói lên rằng người bản ngữ không có sư phạm để dạy bạn cách học tiếng Anh được.
Nếu tôi nói với một sinh viên rằng, “Hãy đọc mọi thứ”. Thì về cơ bản, ý tôi là:
“Hãy tự mà đi tìm hiểu mọi thứ, và tìm hiểu thật là cật lực vào, vì tôi chả biết dạy bạn thế nào cả.”

Tóm lại:

Những gì tôi đã viết là:

(a) Người bản ngữ không học ngôn ngữ của họ bằng cách nghiên cứu ngữ pháp.

(b) Người bản ngữ học ngôn ngữ của họ bằng cách lặp lại.

(c) Người bản ngữ học cách viết ngôn ngữ của họ ở cấp độ nâng cao hoặc học thuật bằng cách sử dụng các từ đồng nghĩa cho Các từ phổ biến nhất (Most Common Words) và các từ đồng nghĩa này có thể được tìm thấy trong các danh sách Từ học thuật (Academic Word) ở cả dạng Danh từ của Động từ hoặc Dạng động từ của Danh từ.

(d) Sinh viên nước ngoài học tiếng Anh nghĩ rằng nếu họ học ngữ pháp càng nhiều càng nhiều càng nhiều nhiều nhiều, cuối cùng họ sẽ nói tốt và viết tốt.
Điều đó không đúng đâu. Sinh viên sẽ lại trở thành nạn nhân thôi. Tệ hơn, còn có thể tiền mất tật mang nữa.

Cảm ơn các bạn đã cùng theo dõi !

------------------------------------------------
KELLA ENGLISH CENTER: Trung tâm luyện thi IELTS cùng giáo viên bản xứ.
 

☎️ Hotline: (024)‭ 32005556‬ - 0981157456
🏫 Địa chỉ:
▪️ CS1: Ngọc Khánh Plaza, Số 1 Phạm Huy Thông, Ba Đình, Hà Nội.
▪️ CS2: Số 6, ngõ 8 Võng Thị, Lạc Long Quân, Hà Nội.
☑ ️Website: https://kella.edu.vn/
🔴 Youtube: TRUNG TÂM TIẾNG ANH KELLA
#KELLA_ENGLISH_CENTRE #LEARNING_ENGLISH
#IELTS


Cũ hơn Mới hơn


Liên hệ với chúng tôi

Câu hỏi thường gặp

Bạn có thể đăng ký kiểm tra trình độ, xếp lớp và lên lộ trình học qua gọi điện cho trung tâm qua
+Liên lạc qua sđt: 02432005556
+Inbox cho fanpage trung tâm
+Nhập thông tin vào ô bên trái.
Phía trung tâm sẽ chủ động liên lạc với bạn qua điện thoại để thống nhất buổi kiểm tra trình độ.

Trung tâm tâm niệm rằng, sự thành công trong việc học ngoại ngữ mới 20% đến từ giảng dạy 80% đến từ sự nỗ lực. Do vậy những buổi học thêm kèm với trợ giảng sẽ là lúc thể hiện 80% đó. Bạn sẽ qua trung tâm cùng làm bài, chữa lỗi, cải thiện những điểm yếu trong tiếng Anh của bản thân.

Để xếp lớp cho bạn đúng trình độ của lớp IELTS phù hợp, trung tâm sẽ có 3 bài kiểm tra lần lượt là bài Ngữ Pháp + Từ Vựng trong 20 phút, Writing trong 40 phút và bài phỏng vấn trực tiếp với giáo viên để test kỹ năng nghe và nói.

Trung tâm làm việc từ thứ 2 đến chủ nhật. Từ 9h sáng đến 21h tối.

ĐĂNG KÝ TEST TRÌNH ĐỘ

* Thắc mắc của bạn sẽ được phản hồi trong 24h. Xin cảm ơn!